Gốc tự do trong ti lạp thể

Dù dismutada protoxyt cần thiết cho việc đấu tranh với các gốc tự do, nhưng dư thừa nó cũng có hại
Trong trường hợp này, các dismutada protoxyt sẽ mặc áo giáp làm bằng mangan và chưa chịu yên cho tới khi chưa diệt trừ hết các gốc tự do. Nhờ sinh học phân tử, bây giờ chúng ta đã biết MnSOD được mã hóa bởi một gen nào đó nằm ở nhiễm sắc thể thứ 6. Các loại dismutada superoxyt khác cũng đấu tranh với các gốc tự do ở khắp các mặt trận còn lại. Thí dụ trong bào tương và trong các dung dịch ngoài tế bào, là nơi các tế bào bơi lội (máu, nước trong gian bào, bạch huyết, v.v..), dismutada protoxyt làm nhiệm vụ bảo vệ là CuZnSOD, có áo giáp bằng đồng và kẽm, được “rèn” bằng gen của nhiễm sắc thể số 21. Chúng ta cần biết rằng, thiên nhiên đầy toan tính đã sắp xếp các gen với mã số dismutada protoxyt với các nhiễm sắc thể khác nhau dựa trên tính bảo vệ tối ưu cơ thể khỏi độc hại của oxy. Điều đó cũng nói rằng, các đối thủ không phải là kẻ thích đùa: anion superoxyt đáng sợ được hình thành bằng sự chuyển hóa bình thường của tế bào, cũng như khi mang bệnh hoặc dưới tác động của các chất khác như rượu, khói thuốc, một vài loại thuốc v.v..
Mặc dù dismutada protoxyt hoàn toàn cần thiết cho việc đấu tranh với các gốc tự do, nhưng phần dư thừa của nó cũng không phải là không có hại. Chứng cứ về điều này cũng dễ thấy. Đáng chú ý là, đôi khi ở người mắc bệnh Down, gen CuZnSOD không phải chỉ có một bản như tiêu chí nêu ra mà có tới ba bản. Và do đó việc tạo ra dismutada cũng tăng lên gần hai lần và kết quả là hình thành số lượng hydro peroxyt dư thừa. Việc này liệu có thể giải thích về hàng loạt dị thường như lão hóa sớm hay độ nhạy cảm cao đối với bức xạ ion hóa, thường thấy ở người bị bệnh Down? Nguyên nhân hóa sinh của các hiện tượng như vậy được khẳng định bởi các thí nghiệm được tiến hành trên chuột: chỉ cần làm thay đổi chất di truyền của chúng, sau khi cấy ghép gen người CuZnSOD sao cho khối lượng diamutada protoxyt tăng lên tới mức làm xuất hiện ở những con chuột thí nghiệm sự rối loạn thần kinh cơ năng của lưỡi, cũng giống như những hiện tượng ở người bị bệnh Down.
Với những thí dụ này, cũng đủ để chấm dứt hoàn toàn và mãi mãi những hoài nghi về vai trò và chức năng của dismutada protoxyt trong việc đấu tranh với tính độc hại của oxy. Cũng không phải ngẫu nhiên mà gần đây, người ta càng ngày càng hay sử dụng nó làm phương tiện cơ bản và trợ lực trong cuộc đấu tranh với các rối loạn và bệnh lý khác nhau, có quan hệ với việc tạo nên sự quá dư thừa các gốc tự do.