Phân tích vitamin C

Vitamin C còn có khả năng khôi phục cả vitamin E, chúng có thể hợp lực chống lại oxy hóa chất béo
Việc phân tích hời hợt thuộc tính của vitamin C chắc chắn làm cho ai đó phải hoài nghi tầm quan trọng của nó đối với cơ thể. Thật khó hình dung được một sai lầm lớn đến thế! Vì ngoài ích lợi của bản thân, vitamin C còn có khả năng khôi phục cả vitamin E. Chúng có thể hợp lực chống lại oxy hóa chất béo, do đó có nghĩa tiên quyết trong việc tăng cường và củng cố sức đề kháng của chúng ta chống lại tác động tiêu cực của các gốc tự do.
Để tận dụng được tính năng tốt của vitamin C, người lớn phài sử dụng mỗi ngày một lượng 60 – 100 miligam, song liều lượng đó chưa phải là giới hạn mà vượt qua sẽ gây nguy hiểm cho cơ thể. Thậm chí một liều cực lớn (cao hơn chỉ định 100 lần) cũng hầu như vô hại. Nếu quan sát những phản ứng phụ, sẽ thấy hoàn toàn không có gì phải lo lắng và sẽ không có các hiện tượng như đi ngoài, tứ chi lẩy bẩy (trước kia gọi là run chân tay) hoặc mất ngủ. Chỉ trong những trường hợp hiếm hoi, do sử dụng lâu ngày và quá liều mới dẫn tới bị sỏi thận.
Như ta đã biết, nguồn vitamin C chủ yếu ở trái cây (các loại họ cam quýt) và rau tươi. Hàm lượng vitamin C cao nhất (tính bằng miligam trên 100 gam) có ở axerol (1300), quả sơn tra (160 – 800), xinorrdon (1000), ổi (300), cam và chanh (50) và cuối cùng bưởi (40).
Trong các thứ rau thì đứng hàng đầu là các loại cải: cải bắp trắng (30-600), cải xanh (120-180), bắp cải (90-150), súp lơ (60-80). Tiếp theo là cần tây (170), cải xoong (80), rau chân vịt (50-90). Các loại họ lúa không chứa vitamin C.
Chúng ta có thể kết luận rằng mặc dù hy vọng của Poling chưa trở thành hiện thực, nhưng vitamin C quả là rất có ích. Nó không những có tác dụng như đã nói ở trên, giúp cho việc khôi phục vitamin E mà còn tham gia trao đổi chất sắt và chất tạo keo trong quá trình kết dính các mô, đồng thơi nâng cao sức đề kháng của cơ thể chống các lây nhiễm và tích cực đấu tranh với hậu quả của stress thần kinh, của việc hút thuốc lá và nghiện rượu.
Axit uric
Nhà khoa học Mỹ Brius Ams ở Đại học Tổng hợp Straford trở nên nổi tiếng bởi những công trình nghiên cứu trong lĩnh vực vi sinh, trên thực tế đã đề ra một phương pháp mang tính cách mạng trong việc nghiên cứu tác động gây ung thư của nhiều phân tử tự nhiên cũng như phân tử do con người tổng hợp. Những thí nghiệm trên chuột lang đã giúp ông tìm thấy những vi sinh vật và từ đó ông có thể phát hiện được các phân tử là tác nhân gây phát triển ung thư.